Hiển thị các bài đăng có nhãn phân tích cơ bản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phân tích cơ bản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

Giáo trình Phân tích cơ bản

1. Nhóm hệ số giá trị: Chỉ số EPS, P/E, P/B, chỉ số nợ D/E (Debt to Equity Ratio)
2. Nhóm các hệ số tài chính ROE, ROA, …
3. Cách phân tích các hệ số từ báo cáo tài chính và các bút toán tiểu xảo trong BCTC.
4. Cách tính dòng tiền và giá trị nội tại cổ phiếu
5. Lựa chọn cổ phiếutheo PP CANSLIM
6. Bí quyết đầu tư theo PP Benjamin Graham

Download tại đây

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2012

Phương pháp định giá cổ phiếu dựa trên hệ số P/E



Định giá cổ phiếu dựa trên hệ số P/E (Price per Earnings) là phương pháp phân tích cơ bản thuộc nhóm phương pháp dựa vào các hệ số. Đây là phương pháp đơn giản để định giá cổ phiếu vì không cần nhiều thời gian phân tích số liệu....
Định giá cổ phiếu dựa trên hệ số P/E (Price per Earnings) là phương pháp phân tích cơ bản thuộc nhóm phương pháp dựa vào các hệ số. Đây là phương pháp đơn giản để định giá cổ phiếu vì không cần nhiều thời gian phân tích số liệu.

Phân tích tài chính doanh nghiệp



Phân tích tài chính DN là việc xác định những điểm mạnh và những điểm yếu hiện tại của DN để tính toán những chỉ số khác nhau thông qua sử dụng những số liệu từ báo cáo tài chính của DN. Tùy vào loại hình kinh doanh và đặc thù của ngành nghề kinh doanh...
Phân tích tài chính DN là việc xác định những điểm mạnh và những điểm yếu hiện tại của DN để tính toán những chỉ số khác nhau thông qua sử dụng những số liệu từ báo cáo tài chính của DN. 

Tùy vào loại hình kinh doanh và đặc thù của ngành nghề kinh doanh, cán bộ nghiệp vụ cần phải tìm ra được các mối liên hệ giữa các chỉ tiêu đã tính toán để đưa ra những nhận xét đánh giá về tình hình tài chính của DN ; một hoặc một số chỉ số là tốt cũng chưa thể kết luận là DN đang trong tình trạng tốt.

Định Giá Cổ Phiếu – Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Cổ Tức



Phương pháp cơ bản nhất để định giá trị một cổ phiếu hay bất kỳ tài sản nào đó là chúng ta phải định giá tất cả những dòng tiền mà chúng ta nhận được từ cổ phiếu hay tài sản đó trong tương lai. ...
Chiết Khấu Dòng Tiền: Nguyên tắc cơ bản nhất để xác định giá trị nội tại của bất cứ tài sản nào.

Phân tích cơ bản (Fundamental Analysis) là gì?



Phân tích cơ bản là việc phân tích tình hình tài chính cũng như tình hình kinh doanh của công ty định đầu tư như dựa vào bảng cân đối tài khoản và bản báo cáo lợi tức của công ty để xem xét chất lượng của công ty cũng như việc phát triển của công ty theo thời gian, nhờ đó tiên đoán các chuyển biến giá chứng khoán. Giá trị là mục tiêu chính trong phân tích cơ bản. ...

Tìm hiểu về giao dịch repo.



Hiện nay, trên TTCK Việt Nam, có nhiều Cty CK đã thực hiện loại hình giao dịch repo với nhà đầu tư. Về bản chất, Đây là giao dịch cho vay tiền thông qua hợp đồng mua bán kỳ hạn cổ phiếu với những điểm chung như sau: - Hai bên hợp đồng là nhà đầu tư và Cty CK. Nhà đầu tư ký hợp đồng mua bán có kỳ hạn với một CtyCK với điều khoản bán cổ phiếu cho Cty CK theo giá thỏa thuận, thông thường từ 30-65% so với giá thị trường của cổ phiếu....

Giao dịch ký quỹ (Margin Trading)



Giao dịch ký quỹ (Margin Trading) là việc nhà đầu tư mua cổ phiếu có sử dụng hạn mức tín dụng do CtyCK môi giới cấp. Nó được đảm bảo bằng khoản ứng trước bằng tiền hoặc thế chấp bằng chính cổ phiếu được mua. Vì vậy, thông thường những nhà đầu tư nào dự đoán giá tăng sẽ thực hiện giao dịch ký quỹ....
Giao dịch ký quỹ (Margin Trading) là việc nhà đầu tư mua cổ phiếu có sử dụng hạn mức tín dụng do CtyCK môi giới cấp. Nó được đảm bảo bằng khoản ứng trước bằng tiền hoặc thế chấp bằng chính cổ phiếu được mua. Vì vậy, thông thường những nhà đầu tư nào dự đoán giá tăng sẽ thực hiện giao dịch ký quỹ.

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012

Lạm phát cái mác thành đạt



 “Thành công là đạt được gì mình mong muốn. Hạnh phúc là muốn những gì mình đạt được” Success is getting what you want. Happiness is wanting what you get (Dale Carnegie).

Gần đây, tôi hay “bị” gán cho cai mác là doanh nhân “thành đạt”. Một cô phóng viên còn gọi tôi là “tỷ phú” dù tôi đã yêu cầu là xin nói rõ chỉ là tỷ phú tiền đồng. Khi một từ ngữ nào bị lạm dụng, tôi thường phát triển một dị ứng lạ thường. Thành đạt, đỉnh cao, đại gia…một ngày rồi phá sản, tội phạm, siêu lừa…một ngày khác. Biển dâu của ngôn ngữ còn sống động hơn những biến động thay đổi trong thực tại.

5 tiên đoán của Alan Phan về kinh tế Việt Nam



Nếu các vị quan và các chuyên gia này sống thực trong một xã hội đụng chạm với thực tế hàng ngày, như các doanh nghiệp tư nhân nhỏ vừa hay các nhân viên sống nhờ đồng lương, họ sẽ nhận ra vài điều đáng buồn. Chẳng hạn, nhập siêu giảm mạnh không phải vì xuất khầu tăng vượt tốc, mà vì nhu cầu tiêu dùng cũng như các hoạt động sản xuất đã ngừng trệ thảm hại. Đây cũng là lý do tỷ giá USD đã không tăng như dự đoán vì người dân đã hết tiền để trữ đô la hay xài hàng nhập khẩu. Khi nền kinh tế suy thoái trầm trọng, lượng cầu tiêu dùng giảm mạnh và lạm phát cũng như lãi suất sẽ giảm theo. Đây không phải là những dấu hiệu tích cực để lạc quan.

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

Các loại lệnh và phương thức khớp lệnh


Có 3 loại lệnh sẽ được áp dụng ở phương thức khớp lệnh mới là: Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá mở cửa (ATO); Lệnh giới hạn (LO) và Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá đóng cửa (ATC). Riêng với lệnh thị trường (MP), theo HOSTC, sau khi phương thức mới hoạt động ổn định, được đánh giá tốt mới xem xét áp dụng.
Lệnh giới hạn (LO) áp dụng trong khớp lệnh định kỳ và liên tục: Là lệnh mua hoặc lệnh bán chứng khoán tại một mức giá xác định hoặc tốt hơn. Hiệu lực của lệnh: kể từ khi lệnh được nhập vào hệ thống giao dịch cho đến lúc kết thúc ngày giao dịch hoặc cho đến khi lệnh bị hủy bỏ.
Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh mở cửa (ATO). Áp dụng trong thời gian khớp lệnh định kỳ để xác định giá mở cửa. Là lệnh mua hoặc bán tại mức giá mở cửa. Lệnh ATO ưu tiên trước lệnh LO khi so khớp lệnh. Tự động hủy bỏ khi khớp lệnh nếu lệnh không được thực hiện hoặc không thực hiện hết.
Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh đóng cửa (ATC) áp dụng trong thời gian khớp lệnh định kỳ để xác định giá đóng cửa. Là lệnh mua hoặc bán tại mức giá đóng cửa. Lệnh ATC ưu tiên trước lệnh LO khi so khớp lệnh.

Loại lệnh
T1
T2
T3
ATO
x


Limit
x
x
x
ATX


x

3. Các phương thức đặt lệnh
Khớp lệnh định kỳ: Là phương thức giao dịch được thực hiện trên cơ sở so khớp các lệnh mua và lệnh bán chứng khoán tại một thời điểm xác định.
Khớp lệnh liên tục: Là phương thức giao dịch được thực hiện trên cơ sở so khớp các lệnh mua và lệnh bán chứng khoán ngay khi lệnh được nhập vào hệ thống giao dịch.
Giao dịch thỏa thuận: Là phương thức giao dịch trong đó các thành viên tự thoả thuận với nhau về các điều kiện giao dịch và được đại diện giao dịch của thành viên nhập thông tin vào hệ thống giao dịch.

Loại chứng khoán
Khớp lệnh
Thỏa thuận
Cổ phiếu
x
x
Chứng chỉ quỹ
x
x
Trái phiếu

x

4. Nguyên tắc khớp lệnh

- Ưu tiên về giá: Lệnh đặt mua với giá cao hoặc lệnh chào bán với giá thấp sẽ được ưu tiên thực hiện trước.

- Ưu tiên về thời gian: Nếu các lệnh có cùng mức giá thì lệnh nào được nhập vào hệ thống trước sẽ được ưu tiên khớp trước.

(Lưu ý: lệnh ATO, ATC là lệnh được ưu tiên khớp trước lệnh LO trong các đợt khớp lệnh định kỳ).

5. Nguyên tắc xác định giá khớp lệnh

a. Khớp lệnh định kỳ

- Giá khớp lệnh là giá mà tại đó khối lượng giao dịch toàn thị trường là lớn nhất. (i)

- Trong trường hợp có nhiều mức giá thỏa mãn điều kiện (i) thì giá trùng hoặc gần với giá tham chiếu nhất sẽ được lựa chọn (ii).

- Nếu có các mức giá thỏa mãn cả hai điều kiện trên thì giá khớp lệnh sẽ là giá cao hơn. (iii).

b. Khớp lệnh liên tục 

- Ngay sau khi lệnh được nhập vào hệ thống lập tức được so khớp và hình thành giao dịch, từ đó, giá khớp sẽ được xác định liên tục chứ không phải vào một thời điểm nhất định.

Phương thức khớp lệnh mới vẫn áp dụng lô chẵn 10 với giao dịch khớp lệnh và 20.000 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ trở lên đối với giao dịch thỏa thuận.

6. Cách tính giá tham chiếu:

a. Các trường hợp thông thường

- Đối với Sở GDCK Hồ Chí Minh: gía tham chiếu của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ giao dịch tại Sở GDCK HCM là giá của phiên giao dịch thứ ba của ngày giao dịch liền trước.

- Đối với TTGDCK Hà Nội: giá tham chiếu của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ là giá bình quân gia quyền của ngày giao dịch liền trước.

b. Các trường hợp đặc biệt

- Trả cổ tức bằng tiền: giá tham chiếu của cổ phiếu được điều chỉnh bằng cách lấy giá tham chiếu trong trường hợp 1 trừ đi số tiền được hưởng.

* Vd: giá đóng cửa cổ phiếu FPT ngày 31/7 là 295.600đ/cp. Ngày 1/8 là ngày giao dịch không hưởng quyền nhận cổ tức của FPT. Được biết mức chi trả cổ tức là 6%.

Vậy giá tham chiếu của FPT ngày 1/8

= 295.600 – 600= 295.000đ/cp

- Trả cổ tức bằng cổ phiếu: giá đóng cửa ngày 31/7 của cổ phiếu AGF là 145.000đ/cp. Ngày 1/8 là ngày giao dịch không hưởng quyền nhận cổ tức bằng cổ phiếu. Biết rằng mức chi trả cổ tức là 20%. Tính giá cổ phiếu của AGF ngày 1/8?

Giá tham chiếu điều chỉnh của AGF ngày 1/8

= 145.000/1.20 = 120.000đ/cp (đã được làm tròn)

- Giá tham chiếu khi thực hiện quyền mua

* Vd: Giá giao dịch cổ phiếu SD6 ngày 17/7 là 65.000đ/cp. Ngày 18/7 là ngày giao dịch không hưởng quyền mua thêm cổ phần theo tỷ lệ 2:1( cổ đông sở hữu 2 cổ phiếu được mua thêm 1 cổ phiếu mới) với giá 10.000đ/cp.

Vậy giá tham chiếu của SD6 ngày 18/7 là:
Giá tham chiếu = (2 x 65.000 + 10.000) / 3 = 46.600 đồng/cp.

II. Lời khuyên cho NĐT:

Việc khớp lệnh liên tục sẽ giúp nâng cao hiệu quả xử lý lệnh, tuy nhiên, mỗi phương thức đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Khớp lệnh liên tục có những lệnh đặc biệt, nếu nhà đầu tư không cẩn trọng rất dễ rơi vào tình huống sập bẫy. Vì thế, NĐT cần lưu ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, NĐT phải tập trung theo dõi thị trường và theo dõi mức giá đặt lệnh, khi đã đặt lệnh thì phải hết sức lưu ý là nếu muốn mua ở mức giá nào thì hãy đặt ở mức giá đó, đừng cố tình đặt giá trần.

Lưu ý thứ hai là đối với lệnh thị trường, phải hết sức cảnh giác. Bên cạnh tính ưu việt là tạo khả năng giao dịch thành công rất cao, thì mặt trái của lệnh thị trường là có thể khớp tại giá mà người đầu tư không mong muốn.

Việc áp dụng phương thức liên tục mới chỉ là bắt đầu những thách thức ngày càng gia tăng đối với người đầu tư cá nhân. Nhà đầu tư cá nhân sẽ phải đầu tư rất nhiều về thời gian mới có thể theo dõi được hết tình hình của các công ty niêm yết.

Thứ Ba, 13 tháng 3, 2012

Phát hành và niêm yết chứng khoán


Phát hành chứng khoán
Khái niệm về phát hành chứng khoán: Việc chào bán lần đầu tiên chứng khoán mới gọi là phát hành chứng khoán. Nếu đợt phát hành dẫn đến việc đưa một loại chứng khoán của một tổ chức lần đầu tiên ra công chúng thì gọi là phát hành lần đầu ra công chúng.
Nếu việc phát hành đó là việc phát hành bổ sung bởi tổ chức đã có chứng khoán cùng loại lưu thông trên thị trường thì gọi là đợt phát hành chứng khoán bổ sung. Tuy nhiên, không phải mọi đối tượng đều được phát hành chứng khoán mà chỉ những chủ thể phát hành mới có được quyền này.  
Phương thức phát hành chứng khoán: Có 2 phương thức phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp. Đó là phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng.
Phát hành riêng lẻ (Private Placement): Là việc công ty phát hành chào bán chứng khoán của mình trong phạm vi một số người nhất định (thông thường là cho các nhà đầu tư có tổ chức có ý định nắm giữ chứng khoán một cách lâu dài) như công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí... với những điều kiện hạn chế chứ không phát hành rộng rãi ra công chúng.
Các ngân hàng đầu tư cũng có thể tham gia vào việc phát hành riêng lẻ với tư cách nhà phân phối để hưởng phí phát hành. Đa số các đợt phát hành trái phiếu đều thực hiện dưới hình thức phát hành riêng lẻ, việc phát hành cổ phiếu thường - cổ phiếu phổ thông ít khi được thực hiện dưới hình thức này.
Phát hành chứng khoán ra công chúng: là việc phát hành trong đó chứng khoán có thể chuyển nhượng được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người đầu tư nhất định (trong đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt một mức nhất định.
Ý nghĩa của việc phân biệt giữa phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng
Việc phân biệt phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng là để xác định những người phát hành rộng rãi ra công chúng phải là những công ty có chất lượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, nhằm bảo vệ cho công chúng đầu tư nói chung, nhất là những nhà đầu tư nhỏ thiếu hiểu biết. Đồng thời, đây cũng là điều kiện để xây dựng một thị trường chứng khoán an toàn, công khai và có hiệu quả.
Việc phát hành chứng khoán riêng lẻ thông thường chịu sự điều chỉnh của Luật Công ty. Chứng khoán phát hành dưới hình thức này không phải là đối tượng được niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán sơ cấp.

P/E bao nhiêu là vừa?





Vào những ngày cuối năm 2006, Giám đốc Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM nhận xét: “Chỉ số P/E bình quân của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện đang là 38,18 lần. So sánh với mức trung bình của các thị trường khác, P/E chỉ dao động từ 10-17 lần”.
Sau tuyên bố này, giá cổ phiếu giảm mạnh. 
Vậy chỉ số P/E là gì, bao nhiêu là vừa?
P/E (Price/Earnings Ratio) là hệ số giữa thị giá một cổ phiếu trên thu nhập của nó. Thông thường người ta dùng thu nhập của cổ phiếu trong bốn quí trước đó để tính. Ví dụ P/E của Vinamilk đầu tuần trước là 33,41; của FPT là 62,82, của REE là 27,43...
Ý nghĩa đầu tiên của chỉ số này là biểu hiện mức giá nhà đầu tư sẵn sàng bỏ ra cho một đồng thu được từ cổ phiếu đó. Một P/E 30 có nghĩa nhà đầu tư chịu bỏ ra 30 đồng để nhận được 1 đồng từ cổ phiếu này. Tuy nhiên, P/E thường phản ánh kỳ vọng của thị trường về sự tăng trưởng của cổ phiếu hơn là kết quả làm ăn đã qua.
Người ta so sánh P/E của các công ty cùng ngành; nếu chỉ số P/E của một công ty cao hơn mức bình quân, có nghĩa thị trường kỳ vọng công ty này sẽ ăn nên làm ra trong thời gian tới. Công ty có chỉ số P/E cao chắc chắn phải có lợi nhuận tương lai cao như kỳ vọng, nếu không thị trường sẽ tự điều chỉnh, giá cổ phiếu giảm cho đúng với thực tế.

Chỉ số P/E cao và thấp




Một người tham gia thị TTCK luôn được dạy rằng thứ quan trọng bậc nhất để xem xét đánh giá một cổ phiếu là chỉ số P/E, xem xét chỉ số P/E cao hay thấp để quyết định mua, bán một mã cổ phiếu nào đó.
Tựu chung các hướng dẫn sơ lược đó đều giống nhau là nên tập trung vào các cổ phiếu có chỉ số P/E thấp và không nên đầu tư vào các cổ phiếu có chỉ số P/E quá cao.
P/E cũng là chỉ số được các nhà phân tích sử dụng trong nhiều năm liền để định giá cổ phiếu. Tuy nhiên, trên TTCK có rất nhiều mã cổ phiếu có chỉ số P/E rất cao nhưng vẫn tiếp tục tăng giá, rất nhiều cổ phiếu có P/E thấp nhưng giá vẫn không thể tăng lên được trong một thời gian rất dài, vậy hướng dẫn này có tính khả thi đến đâu trong việc giúp chúng ta tìm kiếm lợi nhuận?
Tất nhiên trên thị trường khi một cổ phiếu được bán với giá gấp 30-40 lần lợi tức (P/E cỡ 30 đến 40) thì chắc chắn phải có lý do riêng và do thị trường tự quyết định, vì vào thời điểm nào cũng vậy, mọi cổ phiếu đều được mua bán với giá gần với giá trị thực của chúng. Thế nên, nếu chỉ nhìn con số tuyệt đối P/E của một mã cổ phiếu thấy quá cao, có thể bạn đã mất cơ hội dự bữa tiệc ăn mừng sự tăng giá phi mã của PVD từ 120 (P/E là 140) lên 310, của FPT từ 400 (P/E là 73) lên 670 ...

Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2012

Cận cảnh "lỗ hổng"kế toán trong phát hành trái phiếu chuyển đổi

Thứ tư, ngày 09 tháng mười một năm 2011

Cận cảnh "lỗ hổng"kế toán trong phát hành trái phiếu chuyển đổi

Sau khi ĐTCK số ra ngày 26/10/2011 phát hành, có đăng bài "Trái phiếu chuyển đổi: "Lỗ hổng" kế toán và sai lệch trên BCTC" của Th.s Hà Thị Tường Vy, Phó trưởng ban Quản lý hành nghề kế toán, Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam, ĐTCK tiếp tục nhận được bài viết của tác giả Quang Phương, trao đổi rõ hơn về vấn đề này.
Quang Phương
N
gày nay, trái phiếu chuyển đổi (TPCĐ) đã trở thành công cụ tài chính khá quen thuộc trên TTCK Việt Nam. Tuy nhiên, hẳn rất ít nhà đầu tư (NĐT) còn nhớ trong lĩnh vực ngân hàng, công cụ này lần đầu tiên được Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) sử dụng qua đợt phát hành TPCĐ gây chấn động giới đầu tư vào tháng 12/2005. Mặc dù vậy, rất nhiều ý kiến trong giới tài chính không thừa nhận sự kiện trên của Vietcombank là đợt phát hành TPCĐ đúng nghĩa. Đơn giản bởi 1.365 tỷ đồng TP Vietcombank thu được tại thời điểm này chưa xác định tỷ lệ chuyển đổi sang cổ phiếu (CP) và không xác định được thời gian chuyển đổi (do Vietcombank lúc này chưa IPO). Bởi vậy, giới ngân hàng vẫn coi đợt phát hành TPCĐ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) vào ngày 1/11/2006 là đợt phát hành TPCĐ chính thức  và đầu tiên, khi TPCĐ của SCB có đủ các yếu tố như: mệnh giá TP, lãi suất, kỳ hạn, tỷ lệ chuyển đổi sang CP phổ thông.
Như vậy, "thâm niên" sử dụng công cụ TPCĐ của các tổ chức tài chính lớn tại Việt Nam mới khoảng 5 - 6 năm. Vì đây là một công cụ tài chính rất mới đối với Việt Nam nên trong hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (chủ yếu được ban hành từ năm 2001 - 2005, trên cơ sở tuân thủ chuẩn mực kế toán quốc tế, nhưng phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế Việt Nam) chưa có chuẩn mực kế toán tương đương. Do vậy, các DN khi phát hành TPCĐ chưa có đủ căn cứ pháp lý về kế toán để ghi nhận công cụ tài chính phức hợp (bao gồm cả công cụ nợ và công cụ vốn) này, từ đó, xảy ra tình trạng ghi nhận toàn bộ khoản thu được từ đợt phát hành vào khoản mục "Nợ phải trả" như bà Hà Thị Tường Vy đã phản ánh.

Trái phiếu chuyển đổi: “Lỗ hổng” kế toán và sai lệch trên BCTC

Thứ tư, ngày 09 tháng mười một năm 2011


Trong những năm gần đây, nhiều công ty đại chúng trên TTCK Việt Nam đã lựa chọn phương thức phát hành trái phiếu chuyển đổi (TPCĐ) để huy động vốn. Ở nước ta, đây được coi là công cụ tài chính mới, đem lại nhiều lợi ích cho DN phát hành. Không chỉ góp phần giảm chi phí tài chính trong bối cảnh lãi suất ngân hàng cao, việc phát hành và chuyển đổi thành công TPCĐ còn giúp nhiều công ty đại chung tăng nhanh vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, từ thời điểm DN phát hành TPCĐ đến thời điểm trái phiếu được chuyển thành cổ phiếu phổ thông, việc hạnh toán công cụ tài chính này trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp lại chưa được quy định rõ ràng.
Th.s Hà Thị Tường Vy
Phó trưởng ban Quản lý hành nghề kế toán
Hội kế toán và Kiểm toán viên Việt Nam
Trước hết TPCĐ là một loại công cụ tài chính phức hợp, gồm một phần là công cụ nợ và một phần là công cụ vốn. Nó có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của doanh nghiệp theo tỷ lệ chuyển đổi và khuôn khổ thời gian xác định ngay tại thời điểm phát hành.
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS), sau khi phát hành TPCĐ, trên báo cáo tài chính của DN phát hành phải phản ánh tách bạch được giá trị nợ phải trả và vốn chủ sở hữu từ đợt phát hành TPCĐ. Phần nợ phải trả sẽ được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý của khoản nợ phải trả. Phần chênh lệch giữa số tiền thu được khi phát hành TPCĐ và giá trị hợp lý của khoản nợ phải trả sẽ được phản ánh trong phần vốn của chủ sở hữu. Trong hệ thống chính sách về kế toán Việt Nam cho đến nay chưa có văn bản nào hướng dẫn, quy định cho giao dịch này.  Bởi vậy, các DN phát hành TPCĐ, khi phát hành xong đều ghi nhận toàn bộ giá trị phát hành vào nợ phải trả. Chỉ khi nào giao dịch chuyển đổi thực sự thành cổ phiếu phổ thông, DN mới ghi nhận giá trị phát hành vào vốn chủ sở hữu. Như vậy, vô hình chung, DN đang làm sai, vô tình cung cấp cho người đọc báo cáo tài chính các thông tin không chính xác! Minh chứng là tại các đợt phát hành TPCĐ của Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) và Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) những năm qua, cả hai ngân hàng trên đều ghi nhận công cụ này trên báo cáo tài chính theo đúng số tiền thu được khi phát hành, mà không tách biệt được giá trị phần nợ phải trả và phần vốn chủ sở hữu của công cụ này.
PTT
Lãi
Gốc
Giá trị hiện tại (chiết khấu 9%)
Năm thứ 1
9.000
8.256
Năm thứ 2
9.000
7.575
Năm thú 3
9.000
100.000
84.171
Cộng
27.000
100.000
100.002
Việc ghi nhận sai phần nợ phải trả và phần vốn chủ sở hữu có thể minh họa bằng ví dụ sau: Giả sử DN phát hành 100.000 TPCĐ với mệnh giá là 1 triệu đông/ trái phiếu, thời hạn phát hành là 3 năm. Trả lãi mỗi năm một lần vào cuối năm. Lãi suất 9%/ năm, bằng lãi suất trên thị trường, giá phát hành là 1,2 triệu đồng/ trái phiếu. Tổng số tiền thu được của đợt phát hành TPCĐ là 120.000 triệu đồng. Nếu tuân thủ chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS), DN phải ghi nhận số nợ phải trả là 100.002 triệu đồng và vốn chủ sở hữu là 19.998 triệu đồng (phần chênh lệch giữa giá phát hành và giá trị hợp lý của khoản nợ). Do không có hướng dẫn nên khi TPCĐ chưa tới hạn chuyển sang cổ phiếu phổ thông, DN vẫn trình bày trên báo cáo tài chính là 120.000 triệu đồng thuộc nợ phải trả.