Hiển thị các bài đăng có nhãn Phân tích dựa vào chỉ số. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phân tích dựa vào chỉ số. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 29 tháng 8, 2012

Phải chăng đã đến lúc bắt đáy????????



Ngày hôm nay như đã được dự đoán trước thì thị trường có 1 phiên phục hồi tương đối  mạnh. Với 206 mã tăng đối với sàn thành phố Hồ Chí Minh và 214 mã tăng đối với sàn hà nội trong đó có rất nhiều mã tăng trần. Việc quá chú ý vào các mã tăng sẽ làm chúng ta mất đi tính khách quan khi đánh giá một phiên giao dịch tốt hay xấu. Có 1 số cổ phiếu tăng trần chỉ với vài nghìn cổ phiếu được giao dịch sẽ không có nhiều ý nghĩa đối với thị trường.

Thông thường nếu chúng ta để ý thì sau một đợt giảm mạnh thì sẽ có các phiên hồi phục mạnh ( đã khoanh tròn).  Các phiên phục hồi này tiềm ẩn nhiều rủi ro:Các nhà đầu tư bị mất tiền ở các phiên trước đó mất tiền trước đó hay chờ đợi các phiên phục hồi để chốt lời.
Xét về phiên hôm nay thì biên độ tăng giá và khối lượng vẫn ở mức trung bình thì khó có thể xác định cho 1 phiên thể hiên sự đảo chiều của xu thế giảm.  Thông thường khi thị trường xuống đáy thì các nhà đầu tư lại ít quan tâm. Thường thì mức độ phục hồi của thị trường với biên độ giá nhỏ và có khối lượng thấp khoảng 20 đến 30 triệu cổ phiếu.  Vị vậy mà người ta thường cho rằng thị trường đi lên trong hoài nghi, khi không ai tin rằng thị trường sẽ đi lên lúc đó mới là đáy. Với khối lượng và sự tăng giá như vậy thì nhiều khả năng sẽ có thêm vài 3 lần rũ bỏ nữa phải chăng là là làm giảm bớt niềm tin nhà đầu tư có tâm lý bắt đáy?
Xét về nguyên nhân gây ra đợt giảm giá thì phân lớn là do yếu tố thông tin làm cho các nhà đầu tư hoang mang. Với độ minh bạch về thông tin hiện tại thì khó có thể nói trước là sẽ không có thông tin gây ra những biến động lớn như thế này nữa.
Đối với thị trường thế giới đã từng xảy ra các sự kiện tương tự thì chúng ta thấy như nikkei của Nhật hay là nasdaq của mĩ thì cần có thời gian để thị trường phục hồi sau một đợt giảm giá mạnh. Và thông thường thị trường sẽ đi ngang trong một thời gian.



Một số khuyến nghị đầu tư là nên chờ đợi có 1 xu thế rõ ràng, đừng vội vàng bắt đáy mà nên theo dõi thêm. Các nhà đầu tư nên nhớ thị trường Việt Nam là thị trường giao dịch theo T+3 tức là hôm nay mua cổ phiếu thì ngày hôm nay không được tính vào T+ tiếp đó cổ phiếu về tài khoản vào hết phiên giao dịch của 3 ngày sau đó thế là bạn phải chờ đến này thứ 5 kể từ ngày hôm nay mới bán được. Nếu mua vào đợt phục hồi và rũ bỏ thì khó có thể cắt lỗ 7% nhiều lúc hàng về tài khoản lỗ 15 đến 20%.
Mọi khuyến nghị đều mang tính tham khảo !!!!!

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

RSI - CHỈ SỐ SỨC MẠNH TƯƠNG ĐỐI

RSI CHỈ SỐ SỨC MẠNH TƯƠNG ĐỐI RELATIVE STRENGTH INDEX

Biểu đồ chỉ số RSI (Relative Strength Indicator) - Sức mạnh tương đối
Chỉ số RSI dùng để đo sức mạnh hoặc độ yếu tương đối của một loại chứng khoán khi nó tự so sánh với chính nó trong một khoảng thời gian nhất định (thường dùng là 14 ngày). RSI là một công cụ đo dao động (oscillator) có biên trên và biên dưới dao động 0-100 (Phần dưới cùng của biểu đồ trên: RSI – 14 ngày). Đường trung bình nằm giữa màu xám 50. Biểu đồ RSI có các đường chính đáng chú ý sau:
Đường 50 ở giữa, là một dấu hiệu nhận biết chứng khoán sắp tăng giá hay giảm giá. Nếu đường RSI tăng vượt qua đường này, đó là dấu hiệu giá của loại chứng khoán đó có kỳ vọng tăng giá (Bullish). Ngược lại, nếu đường RSI giảm xuống dưới đường này, đó là dấu hiệu giá của loại chứng khoán đó có kỳ vọng giảm giá (Bearish).
Ở đây ta nhấn mạnh là kỳ vọng vì biểu đồ thể hiện quá khứ của cổ phiếu. Khi xác lập xu thế mới sẽ làm cho các nhà đầu tư tin tưởng tăng (hoặc giảm).
Đường 70 phía trên được coi là ngưỡng lỗ mua (overbought) nghĩa là đã mua lỗ quá nhiều so với mức cân bằng của thị trường. Khi đó, nhà đầu tư sẽ bán bớt ra để trở về mức cân bằng làm cho giá giảm xuống). Thường khi đường RSI rớt xuống dưới ngưỡng 70, đó là dấu hiệu giá chứng khoán đó sắp giảm.
Đường 30 ở dưới được coi là ngưỡng lỗ bán (oversold) nghĩa là lượng bán ra quá nhiều làm giá giảm xuống thấp hơn so với giá cân bằng. Nhà đàu tư sẽ mua thêm để đẩy giá lên). Thường khi đường RSI từ dưới lên và vượt ngưỡng 30, đó là dấu hiệu giá chứng khoán đó sắp tăng.




Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

Phân tích kỹ thuật (10): Chaikin Oscillator - Máy dao động Chaikin



Như đã giới thiệu trong bài viết trước về đường tích lũy phân bổ A/D Line, bài viết này sẽ giới thiệu về phương pháp bổ trợ cho A/D Line.  Phương pháp này được đặt tên là Chaikin oscillator – Máy dao động Chaikin lấy then tên của tác giả Marc Chaikin.
Xem trước 
 1. Tính toán
Giống như MACD tính bằng hiệu số hai giá trị trung bình hàm mũ của giá thì phương pháp Chaikin Oscillator được tính toán bằng hiệu số hai giá trị trung bình hàm mũ của A/D Line . Hiệu số giữa trung bình hàm mũ trong 3 phiên và trung bình hàm mũ trong 10 phiên thường được sử dụng.
2. Ý nghĩa
Do cùng một cách tính toán, vì vậy xét về ý nghĩa, Chalkin Oscillator áp dụng đối với sự tăng giảm của A/D Line có ý nghĩa tương tự như MACD áp dụng đối với sự tăng gjảm của giá cả. Theo đó, Chalkin Oscillator xác nhận xu thế tăng hoặc giảm của A/D Line từ đó xác định xu thế tăng hoặc giảm của giá.
Nếu Chaikin Oscillator dương tức là trung bình động ngắn hạn lớn hơn trung bình động dài hạn, xu thế của A/D Line là tăng; ngược lại nếu Chaikin Oscillator âm tức là trung bình động ngắn hạn nhỏ hơn trung bình động dài hạn, xu thế của A/D Line là giảm. Nếu đường trung bình động ngắn hạn giao cắt đường trung bình động dài hạn Chaikin Oscillator sẽ thay đổi giá trị từ dương sang âm (hoặc ngược lại) xuyên qua đường trung bình (giá trị 0); tín hiệu này cảnh báo về sự thay đổi xu thế từ tăng sang giảm hoặc từ giảm sang tăng hoặc ngừng xu thế tăng, giảm chuyển sang biến động dập dềnh.
Về thực chất Chaikin Oscillator phân tích chỉ ra xu thế của A/D Line chứ không trực tiếp chỉ ra xu thế của giá cả. Tính chất gián tiếp này giúp cho Chaikin Oscillator phán đoán với độ trễ ít hơn A/D Line; tuy nhiên, bù lại Chaikin Oscillator sẽ phản ánh kém chính xác hơn A/D Line. Do đó việc sử dụng Chaikin Oscillator cần phải chú ý kết hợp với các phương pháp khác nhằm tăng tính chính xác phân tích.

Phân tích kỹ thuật (9): A/D Line - Đường tích lũy/phân bổ



Sau khi chỉ số cân bằng khối lượng OBV ra đời , Marc Chaikin đã công bố đường tích lũy/phân bổ - Accumlation/Distribution Line A/D Line như một trong những phương pháp phân tích dựa vào tổng khối lượng tích lũy qua các phiên. Tuy nhiên khác với OBV chỉ thuần túy dựa khối lượng , A/D Line đưa thêm vào một hệ số điều chỉnh căn cứ theo giá đóng cửa qua mỗi phiên nhằm phản ánh chính xác hơn trạng thái của thị trường bằng sự kết hợp tính toán giữa giá và khối lượng.
.
1. Tính toán
Marc Chaikin sử dụng hệ số giá đóng tỷ lệ - Close Location Value CLV làm hệ số điều chỉnh căn cứ theo giá đóng cửa của cổ phiếu trong mỗi phiên:
CLV  = ((C - L) - (H - C)) / (H - L) )
Trong đó C là giá đóng cửa
L là giá sàn
H là giá trần

Theo công thức trên thì:
  • Nếu giá đóng cửa tăng kịch trần thì CLV = +1
  • Nếu giá đóng cửa giảm kịch sàn thì CLV = -1
  • Nếu giá đóng cửa bằng giá tham chiếu thì CLV = 0
  • Nếu giá đóng cửa trên giá tham chiếu và dưới giá trần thì CLV là số âm nằm trong khoảng 0 .. +1
  • Nếu giá đóng cửa dưới giá tham chiếu và trên giá sàn thì CLV là số âm nằm trong khoảng 0 .. -1
Nếu như OBV đơn thuần sử dụng tổng tích lũy khối lượng thì A/D Line sử dụng tổng tích lũy khối lượng nhân với hệ số giá đóng tỷ lệ (Volume x CLV), nghĩa là:
Gọi A/D Linei là giá trị của đường tích lũy tại phiên i. Khi đó:
A/D Linei = A/D Linei – 1 + Volume x CLV
Cũng giống như OBV, A/D Line chỉ quan tâm đế phương hướng mà không để ý đến giá trị nên A/D Line0 hoặc A/D Line-1 được quy ước có giá trị bằng 0.

Phân tích kỹ thuật (8): OBV - Chỉ số cân bằng khối lượng



Tiếp theo bài viết số 7 đã giới thiệu một số vấn đề cơ bản về khối lượng và các phương pháp phân tích dựa trên khối lượng; bài viết này sẽ giới thiệu về một phương pháp phân tích đơn giản dựa trên khối lượng giao dịch trong ngày - chỉ số cân bằng khối lượng (OBV – On balance volume). Phương pháp này đã được Joe Granville trình bày trong cuốn sách của ông Granville's New Key to Stock Market Profits xuất bản năm 1963.
1. Tính toán
OBV được định nghĩa tính toán như sau:
Gọi i là giao dịch ngày hôm nay, i – 1 là giao dịch của ngày hôm trước.
  • Nếu giá đóng cửa phiên ngày hôm nay cao hơn phiên trước:
    OBVi = OBVi – 1 + khối lượng giao dịch ngày i
  • Nếu giá đóng cửa ngày hôm nay thấp hơn ngày hôm trước:
    OBVi = OBVi – 1 - khối lượng giao dịch ngày i
  • Nếu giá đóng cửa ngày hôm nay bằng với hôm trước:
    OBVi = OBVi – 1
Phương pháp phân tích bằng OBV sử dụng phương hướng của OBV trên đồ thị chứ không dựa vào giá trị cụ thể của OBV, nghĩa là giá trị của OBV không quan trọng. Vì vậy có thể quy ước OBV của thời điểm i = 0 hoặc i = -1 sử dụng làm gốc đồ thị có giá trị OBV = 0 

Phân tích kỹ thuật (7): Vấn đề khối lượng



Các bài viết trước đã đề cập đến một số phương pháp phân tích phổ biến dựa trên giá cả của cổ phiếu qua các phiên. Tuy nhiên sự phỏng đoán và xác nhận về giá cả trong tương lai không chỉ phụ thuộc vào giá của cổ phiếu tại mỗi phiên mà còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác trong đó có khối lượng giao dịch trong ngày. Do đó kỳ này sẽ đề cập đến các vấn đề về khối lượng giao dịch trên thị trường và nguyên tắc chung của các phương pháp phân tích dựa trên khối lượng giao dịch trước khi đề cập cụ thể đến một số phương pháp phân tích thuộc loại này trong các bài viết tiếp theo.
1. Giới thiệu chung
Như đã biết, giá cả trên thị trường được quyết định bằng cuộc đấu giữa cung và cầu theo nguyên tắc thuận mua và bán. Sự thuận mua vừa bán này được phản ánh không chỉ qua mức giá cân đối cung cầu mà qua cả khối lượng khớp thành công giữa hai bên: nói cách khác bán phải có người mua. Mua mà không có người bán hoặc bán không có người mua là những trạng thái cần phải chú ý trên thị trường, phản ánh mức cung cầu mất cân đối nghiêm trọng. Hãy xem xét các tình huống sau đây:
  • Không ai mua mà cũng chẳng ai bán: đây là trường hợp thị trường đóng băng, hai phe mua bán lừng chừng thăm dò, hàng hóa không được giao dịch hoặc giao dịch với số lượng rất ít trên thị trường.
  • Mua mà không ai bán: số lượng mua vào rất lớn nhưng số lượng bán ra nhỏ, khối lượng giao dịch thành công rất ít hoặc không có giao dịch thành công. Tình huống này xảy ra khi hàng hoá khan hiếm, rất nhiều người muốn mua, nhưng không có hàng bán trên thị trường, những người có hàng thì ôm chặt không bán ra để chờ giá lên cao hơn. Lúc này cầu lấn át cung.
  • Bán mà không ai mua: số lượng bán ra rất lớn nhưng số lượng mua vào nhỏ. Khối lượng giao dịch thành công là không có hoặc rất nhỏ. Tình huống này xảy ra khi hàng hóa bị coi rẻ, người có hàng thì bán tống bán tháo tìm cách rút lui khỏi thị trường, người chưa có hàng thì chẳng muốn mua vào. Lúc này cung lấn át cầu.
  • Mua và bán đều thỏa mãn: khối lượng giao dịch trao đổi trên thị trường lớn, bên mua và bán gặp nhau và đều thỏa mãn. Cung cầu lúc này ở trạng thái cân bằng.

Phân tích kỹ thuật (6): MACD-Histogram dự đoán MACD



Thomas Aspray giới thiệu MACD – Histogram vào năm 1968 như một giải pháp làm giảm thiểu độ trễ của MACD. Như đã biết sự giao cắt giữa MACD và đường trung bình động EMA của chính nó là phát pháo lệnh cho các hành vi mua và bán của nhà đầu tư. Tuy nhiên nếu ngồi chờ phát pháo lệnh này thì sự việc có thể đã trễ. Vì vậy MACD – Histogram được ra nhằm mục đích dự đoán sự xuất hiện của phát pháo lệnh trước khi nó xảy ra, nhờ đó nhà đầu tư có thể ra quyết định mua/bán kịp thời hơn so với việc chờ đợi sự giao cắt giữa MACD và đường trung bình động của chính nó.
1. Tính toán
Giá trị của MACD – Histogram được tính bằng hiệu của MACD và giá trị trung bình động EMA của chính MACD. Thông thường nếu chọn MACD được tính bằng hiệu hai đường trunhg bình động của giá là EMA – 12 và EMA – 26 thì giá trị trung bình động EMA của chính MACD được chọn là 9 phiên.
Đồ thị MACD – Histogram được vẽ trên cùng đồ thị với MACD dưới dạng biểu đồ hình cột. Nếu MACD vượt đường trung bình động EMA của chính nó thì MACD – Histogram dương và biểu đồ cột quay lên trên. Nếu MACD nằm dưới đường trung bình động EMA của chính nó thì MACD – Histogram âm và biểu đồ cột quay xuống dưới.
 Hình dưới là đồ thị MACD – histogram của Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá (DXP) minh hoạ về đồ thị MACD – Histogram dưới dạng các cột màu xanh. Khi MACD – Histogram bằng 0 là lúc có sự giao cắt giữa MACD và trung bình động của chính nó.


2. Ý nghĩa
MACD phản ánh sự chênh lệch giữa giá trị của MACD và giá trị trung bình động EMA – 9 của chính MACD.
Nếu giá trị của MACD – histogram dương và càng lớn thể hiện phe bò tót càng thắng thế trên thị trường. Nếu giá trị MACD – histogram âm và càng nhỏ thì phe gấu càng thắng thế trên thị trường.
Việc giao cắt giữa MACD và đường trung bình động của chính nó là một hiệu lệnh cho hành vi mua vào hoặc bán ra. Tại điểm giao cắt này MACD – Histogram có giá trị 0. Bằng việc dựa vào sự tăng giảm của MACD – Histogram để dự đoán việc MACD – Histogram bằng 0 sẽ xảy ra, nhờ đó MACD – Histogram đưa ra khuyến cáo về một hành vi mua bán của nhà đầu tư nên đến sớm hơn. Kỹ thuật sử dụng để dự đoán như vậy chính là phân kỳ dương và phân kỳ âm.
Hình dưới là đồ thị MACD – histogram của Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá (DXP) minh hoạ về sự xuất hiện của phân kỳ dương và âm trên MACD – Histogram sớm dự báo sự giao cắt cắt của MACD và trung bình động của chính nó.
3. Sử dụng
Nếu đường MACD đang ở trên đường trung bình, giá cả đang lên nhưng MACD – Histogram có sự xuất hiện của phân kỳ âm thì dấu hiệu này cảnh báo về sự giao cắt của MACD với trung bình động của chính nó và sẽ thấp hơn trung bình động. Lúc này nhà đầu tư có thể ra quyết định bán ra sớm hơn việc chờ đợi sự giao cắt mới ra quyết định bán.
Nếu đường MACD đang ở dưới đường trung bình, giá cả đang xuống nhưng MACD – Histogram có sự xuất hiện của phân kỳ dương thì dấu hiệu này cảnh báo sự giao cắt của MACD và đường trung bình động EMA của chính nó và cao hơn trung bình động. Lúc này nhà đầu tư có thể ra quyết định mua vào sớm hơn là việc chờ đợi sự giao cắt mới ra quyết định mua.
Chú ý rằng việc sử dụng MACD – Histogram để phán đoán cũng như sử dụng MACD giao cắt trung bình động EMA của chính nó được sử dụng dựa trên sự phối hợp bổ trợ với các phép phân tích khác.
Ngoài ra vì MACD – Histogram dự đoán sự giao cắt của MACD nên dù có độ trễ ít hơn so với MACD nhưng tính chính xác lại kém hơn. Sử dụng một biện pháp phỏng đoán gián tiếp qua một dấu hiện dự đoán khác thì sẽ kém an toàn hơn là sử dụng phép dự đoán trực tiếp.
 Xét ví dụ về giá cổ phiếu của Công ty Cổ phần bao bì Bình Dương – HBD


(Nguồn ảnh đồ thị: www.vietstock.com.vn )

Phân tích kỹ thuật (5): MACD - Trung bình động hội tụ/phân kỳ



Kể từ khi được Gerald Appel giới thiệu, MACD đã trở thành một trong những công cụ phân tích kỹ thuật đơn giản và tin cậy nhất. MACD được tính toán dựa trên hiệu số của hai đường trung bình động dài hạn và ngắn hạn, giá trị trả về thuộc nhóm phân tích tương quan: tương quan giữa trung bình động dài hạn và trung bình động ngắn hạn..
1. Tính toán
Về mặt tính toán MACD lấy một giá trị trung bình động của giá trong ngắn hạn trừ cho giá trị trung bình động trong dài hạn. Thông thường MACD sử dụng EMA – 12 làm trung bình động ngắn hạn và EMA – 26 làm trung bình động dài hạn và cho hiệu số trên.
Như vậy nếu MACD > 0 thì trung bình động ngắn hạn lớn hơn trung bình động dài hạn.Nếu MACD < 0 thì trung bình động dài hạn nhỏ hơn trung bình động ngắn hạn.
Đồ thị các giá trị của MACD là một máy hiển thị dao động phản ánh tương quan giữa trung bình động ngắn hạn và trung bình động dài hạn. Thông thường đồ thị này được vẽ kèm với đồ thị trung bình động EMA – 9 của chính MACD và đồ thị MACD – Histogram là hiệu số của MACD và trung bình động EMA – 9 của chính MACD. Về MACD - Histogram sẽ được nêu trong một bài khác.
2. Ý nghĩa
So với các phương pháp phân tích khác, MACD thuộc về cả hai nhóm phân tích xu thế và phân tích tương quan, MACD vừa chỉ ra xu thế của thị trường vừa xác định các tín hiệu mua và bán trên cùng một đồ thị.
Như đã biết trong bài viết về trung bình động, khoảng cách giữa trung bình động ngắn hạn và trung bình động dài hạn thể hiện xu thế tăng hoặc giảm của thị trường. Nếu trung bình động ngắn hạn lớn hơn trung bình động dài hạn thì xu thế là tăng giá và MACD có giá trị dương. Nếu giá trị MACD dương và ngày càng lớn thì xu thế thị trường tăng ngày càng mạnh, phe bò tót ngày càng thắng áp đảo. Nếu trung bình động ngắn hạn nhỏ hơn trung bình động dài hạn thì xu thế là giảm giá và MACD có giá trị âm. Nếu giá trị MACD âm và ngày càng nhỏ thì xu thế thị trường giảm ngày càng mạnh, phe gấu ngày càng thắng áp đảo. Đường trung bình của MCAD là 0 nơi mà trung bình động giá ngắn hạn gặp trung bình động giá dài hạn, tại đây bắt đầu có sự đổi chiều về xu thế của thị trường.
Ví dụ về MCAD giá cổ phiếu Công ty cổ phần Nhựa Đồng Nai - DNP

(Nguồn ảnh đồ thị www.vietstock.com.vn ) 
  • Đồ thị trên tại các thời điểm số 1 và 2, đường MACD (Màu xanh) giao cắt đường zero, tại đây các đường đồ thj trung bình động EMA - 12 và EMA - 26 giao cắt nhau trên đồ thị giá.
  • Trên đồ thị MACD, đường EMA - 9 của chính MACD được vẽ trên cùng đồ thị với màu tím và MACD - Histogram được vẽ trên cùng đồ thị với các cột màu xanh dương.
3. Sử dụng
Khi sử dụng MACD cần chú ý các tín hiệu sau để phát lênh mua hoặc bán:
  • Sự giao cắt giữa MCAD và đường trung bình động EMA của chính MACD: Nếu đường MACD ở cắt đường trung bình động EMA của chính nó và đi xuống dưới đường này thì đó là tín hiệu bán ra để cắt lỗ. Nếu đường MACD cắt đường EMA của chính nó và đi lên trên đường này thì đó là tín hiệu mua vào. Sự giao cắt này được gọi là cò súng khai hỏa các tín hiệu mua và bán khác chính xác. Tuy nhiên cũng chú ý rằng khi các tín hiệu này xảy ra thì thường sự việc đã xảy ra rồi. Tuy không thể mua đáy bán đỉnh được nhưng việc bạn sớm mua vào hay bán ra ở đầu một xu thế lên giá hoặc giảm giá cũng là một món hời.
  • Sự giao cắt giữa MCAD và đường zero. Sự giao cắt này chỉ là sự khẳng định lại tăng phần chắc chắn về xu thế mà các phép phân tích khác chỉ ra. Thông thường sự giao cắt này xảy ra khá muộn với độ trễ lớn nhất là khi sử dụng MCAD với hai đường trung bình động trong 9 ngày và 26 ngày. Do đó không thể dùng sự giao cắt này làm tín hiệu để phát lệnh mua/bán.

Các tín hiệu trên cần kết hợp với nhiều tín hiệu trên các phân tích khác để có kết quả chính xác hơn.
  • Xác định xu thế tăng hoặc giảm hoặc dập dềnh.
  • Các dấu hiện về phân kỳ âm, phân kỳ dương.
  • Ngưỡng siêu mua/siêu bán
Khi phối hợp các tín hiệu trên với nau cần nhớ đến nghịch lý của việc áp dụng phân tích kỹ thuật: Việc áp dụng và chờ đợi càng nhiều tín hiệu để tăng phần khẳng định chính xác hơn của một quyết định mua bán có thể làm tăng phần chậm trễ cho quyết định mua bán đó và ngược lại việc áp dụng quá ít tín hiệu để ra quyết định mua bán cho kịp thời cơ có thể lại kém phần chính xác. Quyết định chính xác nhất là không quyết định.
Xét ví dụ sau về giá của chứng chỉ quỹ VF1:

  • Trong giai đoạn cuối tháng 2 năm 2007, RSI đạt trên ngưỡng 50 và tiến dần đến ngưỡng siêu mua, phân kỳ dương xuất hiện và có sự giao cắt giữa MACD và đường trung bình động của chính nó tại thời điểm số (1) là tín hiệu mua vào. Từ lúc đó cho đến thời điểm số (2) (giao đoạn ngay trước và ngay sau tết), thị trường có dạng dập dềnh nhưng MACD luôn ở trên đường trung bình động EMA của chính nó vì vậy nhà đầu tư vẫn ôm chặt chứng chỉ quỹ của VF1 chờ thời.
  • Sang đầu tháng 3 giá của VF1 vẫn tăng tốt, ngưỡg siêu mua đã bị xuyên phá tại thời điểm số (2). Sang đến giữa tháng 3 tại thời điểm số (3), MACD đã giao cắt đường trung bình động EMA của chính nó và đi xuống dưới đường này, các tín hiệu trên đồ thị RSI đã phá vỡ và đi xuống dưới ngưỡng siêu mua cùng với sự xuất hiện của phân kỳ dương khẳng định đã đến lúc cần phải rút lui khỏi thị truờng.
  • Vào giữa tháng 4, tại thời điểm số (4), lúc này RSI đã phá vỡ ngưỡng siêu bán và đi lên trên giá trị này, phân kỳ dương xuất hiện cho thấy sự khởi sắc của thị trường. sự giao cắt giữa MACD và EMA của chính nó báo hiệu tín hiệu mua vào. Tuy nhiên sự giao cắt này không đảm bảo một sự chắc chắn cho những sự kiện bất ngờ xảy ra sau đó đối việc phát hành của chứng chỉ quỹ VF1 đã đẩy giá của VF1 tụt dốc.

Hãy chú ý đến các thời điểm RSI xuyên phá các ngưỡng siêu mua, siêu bán và sự giao cắt của MACD và các đường trung bình động EMA của chính nó xảy ra sau đó trên đồ thị giá của cổ phiếu của công ty Cổ phần Hàng Hải Hà Nôi (MHC).

Phân tích kỹ thuật (4): Aroon thể hiện xu thế



Năm 1995, Tushar Chande giới thiệu Aroon với tư cách là phương pháp phân tích kỹ thuật xác định xu thế giá cả của thị trường và cho biết xu thế đó mạnh đến đâu?
Ý tưởng tính toán Aroon dựa trên việc xác định phiên có giá cao nhất (hoặc nhỏ nhất) cách phiên hiện tại bao xa trong số các phiên lấy dữ liệu tính. Nếu phiên có giá cao nhất nằm cách xa phiên hiện tại thì xu thế thị trường có sự chuyển mình sang giảm giá, nếu phiên có giá thấp nhất nằm cách xa phiên hiện tại thì xu thế thị trường có sự chuyển mình sang xu thế tăng giá.
Với vai trò nhận định xu thế giả trên thị trường, đồ thị giá trị của Aroon có hai loại: Loại thứ nhất bao gồm 2 đồ thị biểu thị hai giá trị là Aroon up và Aroon down thể hiện sức mạnh tăng và giảm giá trên thị trường. Loại thứ 2 biểu thị sự tương quan giữa sức tăng và sức giảm giá trên thị trường bằng cách lấy hiệu của Aroon up và Aroon down, đồ thị loại này có dạng một máy dao động.
1.    Cách tính Aroon
Giả sử cần tính giá trị Aroon up và Aroon down cho phiên hiện tại: gọi n là số phiên lấy dữ liệu để tính Aroon, tup là số phiên trước phiên hiện tại có giá cao nhất trong n phiên, tdown là số phiên trước phiên hiện tại có giá thấp nhất trong n phiên.
Aroon up = 100 (n – tup) / n
Aroon down = 100 (n – tdown) / n
Aroon tương quan = Aroon up – Aroon down
Ví dụ tính Aroon cho phiên hiện tại với dữ liệu lấy trong 14 phiên trước đó. Trong 14 phiên này, phiên có giá cao nhất xảy ra cách hiện tại 5 phiên, phiên có giá thấp nhất xảy ra cách phiên hiện tại 8 phiên.
Aroon up = 100 (14 – 5) / 14 = 64,29
Aroon down = 100 (14 – 8) / 14 = 42,86
Aroon tương quan = Aroon up – Aroon down
2.    Sử dụng Aroon
Bằng cách dựa vào khoảng cách từ phiên hiện đến phiên có giá cao nhất hoặc thấp nhất. Nếu giá cao nhất vừa được thiết lập trong các phiên gần phiên hiện tại, Aroon up có giá trị lớn hơn 50, theo thời gian nếu giá cao nhất này không được phá bỏ thì giá trị Aroon up sẽ giảm dần. Nếu giá thấp nhất vừa được thiết lập trong các phiên gần phiên hiện tại thì Aroon down có giá trị lớn hơn 50, theo thời gian nếu giá thấp nhất này không được phá bỏ thì giá trị Aroon down sẽ giảm dần
Nếu Aroon up có giá trị nhỏ hơn 50 nghĩa là phiên có giá cao nhất nằm cách xa phiên hiện tại, xu thế tăng giá đã mất nếu đang là xu thế tăng giá. Nếu Aroon down có giá trị nhỏ hơn 50 nghĩa là phiên có giá thấp nhất nằm cách xa phiên hiện tại, xu thế giảm giá đã không còn nếu đang là xu thế giảm giá. Nếu Aroon up và Aroon down xấp xỉ nhau, tức là phiên có giá thấp nhất và phiên có giá cao nhất ở gần nhau, thị trường không đi theo xu hướng rõ rệt, xu thế nếu có cũng rất yếu.
Để rõ ràng hơn, Aroon tương quan được sử dụng để xác định tương quan giữa Aroon up và Aroon down đại diện cho tương quan giữa xu thế tăng và xu thế giảm. Aroon tương quan càng gần 0 thì biến động càng không có xu thế tăng hoặc giảm rõ ràng mà có dạng dập dềnh, Aroon tương quan lớn hơn 0 và càng lớn hơn bao hiêu thì xu thế tăng giá của thị trường càng lớn bấy nhiêu, Aroon tương quan nhỏ hơn 0 và càng nhỏ hơn bao nhiêu thì xu thế giảm giá của thị trường càng lớn bấy nhiêu.
Xét ví dụ về Công ty Cổ phần Lương thực Thực phẩm Safoco (SAF) 


Nguồn ảnh đồ thị www.vietstock.com.vn

  • Tại vòng tròn số (1): Aroon tương quan rât lớn, xu thế giá là tăng và xu thế này rất mạnh.
  • Tại vòng tròn số (2): Aroon tương quan rât nhỏ, xu thế giá là giảm và xu thế này rất mạnh.
  • Tại vòng tròn số (3): Xu thế giá xấp xỉ 0, xu thế tăng và giảm không rõ ràng.

Phân tích kỹ thuật (3) : Chỉ số sức mua/bán tương đối RSI



Năm 1978 J. Welles Wilder giới thiệu chỉ số RSI, từ đó đến nay RSI và trở thành một trong các chỉ số phổ biến và hiệu quả được sử dụng trong phân tích kỹ thuật. Đây là một chỉ số thuộc nhóm các phương pháp tương quan phản ánh tương quan sức mạnh sự tăng giá và giảm giá trong một thời kỳ.

1. Tính toán RSI
RSI phản ánh mối quan hệ giữa sức tăng giá và sức giảm giá của một CP trong một thời kỳ xác định bằng cách lấy tỷ số giá trung bình của các phiên tăng và giá trung bình các phiên giảm trong thời kỳ đó.
Gọi n là số các phiên trong thời kỳ xác định cần tính RSI.
Gọi giá trung bình các phiên tăng trong n phiên là AIn = Tổng giá các phiên tăng / n
Gọi giá trung bình các phiên giảm trong n phiên là ADn = Tổng giá các phiên giảm / n
Chỉ số sức bền tương đối được tính bằng công thức
RSI = 100 – 100 / (1 + RS) (1)
Trong đó RS = AIn / ADn là tỷ số giá trung bình các phiên tăng và giá trung bình các phiên giảm
Xét ví dụ về một phương pháp phân tích kỹ thuật sử dụng trung bình động.
Giá CK trong 5 phiên đến ngày 18/05/2007 của Công ty cổ phần nhựa Đồng Nai – Mã CK DNP


Ngày
Giá
 Thay đổi
%thay đổi 
Khối lượng 
 18/05
 76.000
 2.000
 2,70%
 56.350
 17/05
 74.000
 2.000
 2,78%
 36.190
 16/05
 72.000
 -3.500
 -4,64%
 43.350
 15/05
 75.500
 3.500
 4,86%
 30.550
 14/05
 72.000
 3.000
 4,35%
 52.750
(Nguồn SSI)
 Trung bình sự thay đổi giá các phiên tăng trong 5 phiên
AG = (2.000 + 2.000  + 3.500 + 3.000) / 5 = 2.100
Trung bình sự thay đổi giá các phiên giảm trong 5 phiên
AL = (3.500) / 5 = 700
Hệ số tương quan phản ánh giữa sức tăng và sức giảm giá là tỷ số AG/AL, quy chuẩn về thang 100 sẽ tính được RSI là:
RSI = 100 – 100/ (1 + AG/AL) = 75

Phân tích kỹ thuật (2): Trung bình động và xu thế



Trung bình động tại một thời điểm là giá trị trung bình của giá trong một giai đoạn tính đến thời điểm đó. Trung bình động là kim chỉ nam xác định xu thế đi lên hay đi xuống của giá.

Trong phân tích khoa học kỹ thuật và quản lý, trung bình động đã được ứng dụng rất rộng rãi. Vì vậy tất yếu trong phân tích thị trường chứng khoán với tư cách là một khoa học, trung bình động đã được ứng dụng ơhổ biến và rộng khắp.
 (Xem Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan. để có khái niệm tổng quát về phân tích kỹ thuật)
Về phân loại các phương pháp phân tích kỹ thuật, trung bình động thuộc nhóm phương pháp phân tích xu thế, vì vậy trung bình động có các thuộc tính và tính chất của các phuơng pháp phân tích xu thế - Xem Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan. 
1. Các phương pháp trung bình động
Trung bình bình động được tính bằng nhiều phương pháp khác nhau. Khuôn khổ bài viết này chỉ giới thiệu hai phương pháp tính trung bình động được sử dụng phổ biến.
1.1. Trung bình đơn SMA
Trung bình đơn tại một phiên là lấy giá trị trung bình của phiên đó và các phiên trước.
Gọi
  • SMAt là giá trị trung bình động tại phiên t.
  • Pt là giá của CP tại phiên t.
  • n là số phiên tính trung bình động
Giá trị của trung bình đơn tại phiên t là
SMAt = (Pt + Pt – 1 + Pt – 2 + … + Pt – n + 1) / n
1.2. Trung bình hàm mũ EMA
Gọi
  • EMAt là giá trị trung bình động hàm mũ tại phiên t
  • Gọi Pt là giá CP tại phiên t
  • n là số phiên tính trung bình động
 Giá trị của trung bình hàm mũ tại phiên t là
EMAt = ((Pt – EMAt – 1) * M) + EMAt – 1
(Với hệ số M thường được lấy với giá trị = 2 / (1 + n))


Đường trung bình động giá CP của Công ty Cổ phần Hàng hải Hà Nội - MHC
nguồn ảnh đồ thị - www.vietstock.com.vn

Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan


Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan
Newton một nhà vật lý, toán học thiên tài cũng là một nhà đầu tư chứng khoán. Kết quả kinh doanh của ông: phá sản với câu nói nổi tiếng của mình “Tôi có thể cân được khối lượng của linh hồn nhưng không thể đo được sự điên rồ của con người”. Câu chuyện trên là một ví dụ về phân tích kỹ thuật bằng phép cân linh hồn của Newton. Vậy bản chất phân tích kỹ thuật là gì và tại sao một thiên tài về cân đo đong đếm như Newton vẫn có thể thất bại trên thị trường?
Bài viết này sẽ giới thiệu tổng quan về phân tích kỹ thuật: khái niệm, các yếu tố liên quan và cách thức sử dụng chung.
1. Phân tích kỹ thuật là gì
Phân tích kỹ thuật sử dụng các mô hình toán học (đồ thị, biến đổi miền, xác suất thống kê, …) dựa trên dữ liệu thu thập về thị trường trong quá khứ và hiện tại để chỉ ra trạng thái của thị trường tại thời điểm xác định, thông thường là nhận định xu hướng thị trường đang lên, xuống hay “dập dềnh” hoặc nhận định tương quan lực lượng giữa sự tăng và sự giảm giá. Phân tích kỹ thuật không để ý đến các chỉ số tài chính, tình hình phát triển hay các thông tin về thị trường về doanh nghiệp mà chỉ chú trọng vào tập các dữ liệu về giá cả, khối lượng, … của cổ phiếu thu thập được tại các phiên giao dịch trong quá khứ.
Chính vì chỉ dựa vào tập dữ liệu đã tồn tại trên thị trường – tức là các thông tin trong quá khứ - phân tích kỹ thuật không phải là công cụ để dự đoán tương lai giá cả của cổ phiếu. Những kết luận thu được từ các biện pháp phân tích kỹ thuật chỉ thị trạng thái của thị trường đã xảy ra trong quá khứ; thời điểm rút ra kết luận về trạng thái của thị trường luôn luôn đi sau so với sự kiện đã xảy ra. Khoảng thời gian chênh lệch đó gọi là độ trễ.
Xét ví dụ về một phương pháp phân tích kỹ thuật sử dụng trung bình động.
Giá CK trong 5 phiên đến ngày 18/05/2007 của Công ty cổ phần nhựa Đồng Nai – Mã CK DNP
Ngày
Giá
 Thay đổi
%thay đổi 
Khối lượng 
 18/05
 76.000
 2.000
 2,70%
 56.350
 17/05
 74.000
 2.000
 2,78%
 36.190
 16/05
 72.000
 -3.500
 -4,64%
 43.350
 15/05
 75.500
 3.500
 4,86%
 30.550
 14/05
 72.000
 3.000
 4,35%
 52.750
(Nguồn SSI)
Vậy giá trị trung bình động trong 5 phiên của DNP vào ngày 18/05/2007 là
(76.000 + 74.000 + 72.000 + 75.500 + 72.000) / 5 = 73.900 đ
Tập hợp các giá trung bình động của DNP trong các ngày khác nhau sẽ được đường trung bình động giá trong 5 phiên của DNP


Nguồn ảnh đồ thị 
www.vietstock.com.vn
Bằng mắt thường quan sát đường trung bình động có thể nhận định rằng xu thế của DNP đến thời điểm ngày 18/05/2007 là tăng giá, liệu sau ngày 18/05/2007 giá CP của DNP có tiếp tục tăng không?
Trở lại với câu chuyện về Newton, với khả năng toán học của mình, việc am hiểu và áp dụng các biện pháp toán học trong phân tích kỹ thuật đối với ông không phải là điều khó khăn. Nhưng phân tích thị trường không phải là khoa học chính xác, không thể dùng toán học để dự đoán một mong đợi 100%; do đó sự thất bại của Newton là một điều hợp lý bởi ông không thể dự đoán được tương lai chỉ bằng phép cân khối lượng của linh hồn.